Đại tướng-nhà giáo Võ Nguyên Giáp
Cụ bà thân sinh cậu Giáp, những hôm không bận việc đồng áng thì cặm cụi bên khung cửi để mưu sinh. Cụ ông là một nông dân có học thức, tự cày cấy ruộng nhà, và truyền lại cho cậu bé Giáp chữ nghĩa, vốn tri thức và tình yêu quê hương đất nước trên một miền quê mà mỗi tấc đất đều mang một chứng tích lịch sử. Phía Bắc của tỉnh là động Phong Nha hoang sơ nhưng thu hút nhiều khách hành hương đến cầu nguyện trước một bàn thờ còn sót lại của người Chăm. Trên bờ biển, dãy Hoành Sơn hùng vĩ án ngữ biển, nơi đây nữ sỹ Bà Huyện Thanh Quan của thế kỷ XVIII từng ca ngợi vào một buổi chiều tà: “ Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc”. Cậu bé Giáp tuy ở tuổi ấu thơ cũng đã hiểu rằng, nữ thi sỹ khi nói đến con cuốc cuốc là nói đến non sông đất nước vì tiếng con chim cuốc cuốc theo âm Hán -Việt đồng âm với tiếng “quốc”, nghĩa là đất nước, quê hương.
Cách làng An Xá một quãng ngắn vẫn còn sót lại di tích của thành lũy xưa gắn liền với vai trò của cụ Đào Duy Từ – nhà quân sự kiêm thầy giáo dạy chữ Nho. 25 năm trước khi cậu Giáp cất tiếng khóc chào đời, vùng đất Quảng Bình từng là địa bàn hoạt động của nghĩa quân Cần Vương hưởng ứng lời kêu gọi chống Pháp của vua Hàm Nghi. Năm 1923, cậu Giáp tạm biệt cha mẹ già vào Huế để vào học Trường Quốc học.
Cậu đặc biệt say mê các môn Lịch sử, Địa lý và Vật lý. Cậu chỉ rời sách vở khi bận đến dự những cuộc thảo luận sôi nổi về các vấn đề liên quan đến lịch sử nước nhà như “cứu nước”, “canh tân đất nước”, “đánh giặc ngoại xâm”… Lúc bấy giờ, người ta đã xì xào, bàn tán về một con người có sức hấp dẫn lạ kỳ mang tên Nguyễn Ái Quốc – một cựu học sinh Trường Quốc học Huế, tác giả của cuốn sách nổi tiếng “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Người ta đã đưa cho cậu một bản và cậu đã say sưa đọc.
Năm 1934, sau khi đỗ Tú tài triết học, Võ Nguyên Giáp ghi tên vào học trường luật. Vừa đi học đại học, chàng sinh viên Võ Nguyên Giáp vừa xin làm giáo viên Trường tư thục Thăng Long để kiếm sống.
Tháng 9/1935, Trường tư thục Thăng Long (mới) khai giảng năm học đầu tiên. Nhìn vào danh sách các giáo sư, người ta đã có thể thấy được đây là tổ chức của những trí thức tiến bộ có tinh thần yêu nước: Hoàng Minh Giám, Võ Nguyên Giáp, Đặng Thai Mai, Phan Thanh, Nghiêm Xuân Yêm, Nguyễn Lân, Bùi Kỷ, Phạm Huy Thông, Ngô Xuân Diệu, Vũ Đình Hòe, Nguyễn Cao Luyện, Trịnh Văn Bính, Nguyễn Dương, Vũ Đình Liên… Thế nên học sinh các tỉnh cũng đua nhau tìm đến, ngay năm đầu lên tới 2.000 học sinh, một thắng lợi mà những người thành lập trường chưa nghĩ tới. Trường Thăng Long đã nổi lên như một điểm sáng trong khối tư thục.
Trong thời gian 5 năm giảng dạy môn Lịch sử tại Trường Thăng Long, thầy Võ Nguyên Giáp dạy cả lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới. Nhiều tướng lĩnh cao cấp của quân đội ta vốn là cựu học sinh trường tư thục Thăng Long thuở ấy như Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Trung tướng Lê Quang Đạo, Trung tướng Phạm Hồng Cư… đến nay vẫn còn viết hồi ký in trong sách kỷ yếu về nhà trường, thường nhắc đến những bài dạy lịch sử và đầy nhiệt huyết của thầy Giáp giảng về cuộc Đại cách mạng Pháp 1789, ý nghĩa của ba chữ “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”, lý lẽ của 17 điều trong bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của Pháp năm 1791, nhất là cuộc chiến tranh của Napoleong, được giải thích và phân tích trên cả những sơ đồ vẽ các trận Austerlitz và Borodino.
Ông Bùi Diễm, từng là Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ giai đoạn 1967-1972, là một học trò đã học lịch sử với thầy Võ Nguyên Giáp ở Trường tư thục Thăng Long đã bày tỏ cảm xúc và sự trân trọng trong hồi ức về thầy Giáp rằng: “Trong tất cả các nhân vật đáng nhớ, đặc biệt có một người mà tôi khó quên, đó là ông Võ Nguyên Giáp – người dạy tôi về môn Sử… Ông như người bị quyến rũ bởi cách mạng và đấu tranh. Phần chương trình của lớp đã được ấn định là giai đoạn cuối thế kỷ XVIII cho đến cuối thế kỷ XIX trong lịch sử Pháp, nhưng ông Giáp nhất định chỉ giảng về hai thời kỳ là cuộc Đại cách mạng Pháp 1789 và những trận đánh thời Napoleon”.
Một người khác, ông Trần Văn Hà – cựu học sinh Trường Bưởi, không được trực tiếp học sử với thầy Giáp, nhưng nghe tiếng thầy giảng hấp dẫn, có sức lôi cuốn đặc biệt nên đã mượn vở của bạn mình để học. Ông kể rằng “anh bạn cùng gác trọ học Trường tư thục Thăng Long cứ luôn khoe với tôi thầy Võ Nguyên Giáp giảng về lịch sử cách mạng Pháp thật tuyệt vời. Tôi mượn xem, quả là hay thật! Bài học mà như chuyện kể, rất lôi cuốn về đánh chiếm ngục Baxti, ý nghĩa của 3 chữ “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”, những lý lẽ của 17 điều trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền… Tự nhiên được khơi dậy trong lòng người đọc lòng yêu dân, yêu nước, chống áp bức cường quyền, chống bất bình đẳng, tự do. Rồi như có một sức mạnh vô hình đẩy mình phải làm một cái gì đó.
Về phương pháp, thầy Võ Nguyên Giáp là một người dạy học có phương pháp rất nhuần nhuyễn và sáng tạo. “Đứng trước lớp, ông nhìn vào học trò và dõng dạc nói. Sự hấp dẫn của bài giảng bắt đầu từ việc nêu vấn đề và hướng người học tập trung vào sự kiện, từ sự kiện rút ra bản chất và bài học lịch sử. Người luôn coi trọng tính khách quan của sự kiện lịch sử, đề cao phân tích nhân vật lịch sử để học sinh hiểu lịch sử, biết được thời đại mà họ đang sống”.
Với giọng sang sảng và say sưa, gần gũi và thân thiện với học trò, thầy Giáp đã đi vào ký ức của nhiều thế hệ học trò với tất cả hình ảnh đẹp về một người thầy đáng kính về nhân cách, uyên bác về kiến thức và giỏi về năng lực sư phạm. Bởi trên tất cả, đó là sự gắn bó của ông về nghề dạy học, lòng yêu sử, quý trò.
Năm 1990, khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời phỏng vấn nhà báo kiêm sử gia người Mỹ Stanley Karnow – phóng viên báo New York Time, tác giả của cuốn sách “Vietnam – a history”, ông đã nói: “Xin nhớ, tôi là vị tướng chiến đấu vì hòa bình. Nếu không trở thành người lính, có lẽ tôi vẫn là một thầy giáo, có thể Triết hoặc Lịch sử”.



